VÀI KỶ NIỆM VỚI QUỲ (NHÀ VĂN TRẦN HOÀI DƯƠNG)

Hoàng Hưng – 13.06.2020

 

– Gặp nhau lần đầu ở Hà Nội, khi tôi mới trở về lại khoa Văn ĐHSP (1962).

Ở nhà riêng nhà thơ Phạm Hổ, chung cư khu Kim Liên.

Anh Phạm Hổ là nhà thơ thiếu nhi nổi tiếng, rất quý Trần Bắc Quỳ, người mới viết cho thiếu nhi với tấm lòng đầy yêu thương và con mắt trong veo, vừa ra mắt cuốn truyện thiếu nhi đầu tiên.

Anh Phạm Hổ cũng là BTV Thơ báo Văn Nghệ, đã gặp tôi ở nông trường quân đội Điện Biên Phủ khi lên đó “đi thực tế”, lúc tôi đã bỏ Đại học tình nguyện lên dạy văn hoá cho sĩ quan quân đội Quân khu Tây Bắc, lại tranh thủ kỳ nghỉ hè lên gánh lạc, chăn bò cho nông trường ĐBP! Anh đã đem về đăng báo Văn Nghệ những bài thơ đầu tiên của tôi.

Từ đó, mối giao tình giữa ba người ngày càng thắm thiết.

Nhớ mãi: lần đầu tiên biết uống cà phê, là Quỳ cho uống ở chợ Hàng Da!

Trong một sự kiện của nhà thơ Thanh Tùng, với nhà văn Trần Hoài Dương, nhà văn Trần Đồng Minh. Ảnh của nhà văn Phạm Đình Trọng.
Trong một sự kiện của nhà thơ Thanh Tùng, với nhà văn Trần Hoài Dương, nhà văn Trần Đồng Minh. Ảnh của nhà văn Phạm Đình Trọng.

– Quỳ là con người trong sáng, và tốt với mọi người, đến mức cực đoan, đến mức có thể làm cho những người có quan hệ với anh có lúc cảm thấy hơi ngài ngại (có lẽ vì ở bên anh, ai cũng cảm thấy cái xấu của mình hiện rõ mồn một!)

Ngược lại, anh không thể nhân nhượng một li với cái xấu, cái ti tiện của bất cứ ai, ở bất cứ đâu.

Tôi thầm học nhưng không theo được, vì tính tôi cả nể và cũng hơi thoả hiệp.

Quỳ đem tất cả ánh sáng thanh khiết của tâm hồn mình vào những trang sách đẹp và sạch như lau cho thiếu nhi, có phần lý tưởng hoá. Anh không thể chấp nhận những cái tầm thường của cuộc đời thường.

Có lần anh kể với cả nỗi thất vọng chua chát: mừng tuổi cho một cháu, nó mở ngay phong bì ra xem có… bao nhiêu tiền! Có lẽ vì thường thất vọng nên mặt anh lúc nào cũng buồn, cũng đăm chiêu.

Các tác phẩm. Ảnh của nhà văn Phạm Đình Trọng.
Các tác phẩm. Ảnh của nhà văn Phạm Đình Trọng.

– Tôi về Hải Phòng dạy học năm 1965.

Vẫn thường đạp xe về Hà Nội để đọc sách trong thư viện Quốc gia và qua anh Phạm Hổ mượn sách của thư viện Hội Nhà Văn.

Quỳ đang tình nguyện làm việc với các cháu ở trường giáo dục trẻ phạm pháp trên Bắc Giang nhưng cũng thường về Hà Nội để trao đổi chuyện viết lách với các đồng nghiệp viết văn thiếu nhi.

Không thường gặp, nhưng chúng tôi luôn nghĩ đến nhau.

Đây là một bài thơ tôi viết tặng Quỳ khi ở Đồ Sơn:

Có một người tìm ra biển ngày giông
Mưa chợt đến chợt đi. Biển xầm, biển sáng.
Dáng người nhảy sóng, nhảy sóng
Thèm khát sống một ngày.

Giông tan từ tận ngoài xa lắm
Chân sóng có nỗi buồn
Nỗi buồn mọc và đổ

Gió dài không muốn về.

Ảnh: Trần Bắc Quỳ và nhà thơ Hoàng Hưng (khoảng 1964)
Ảnh: Trần Bắc Quỳ và nhà thơ Hoàng Hưng (khoảng 1964)

Có lẽ chúng tôi đồng cảm ở nỗi thất vọng vì những cơn giông có thể rửa sạch bầu trời thì cứ tan ở tận ngoài xa lắm!

Cũng như một câu thơ khác:

Tường vi nở rồi hoa trên gạch đỏ
Quỳ ơi Quỳ đời ta biết có
Mấy ngày vui?

Những đêm Hà Nội, hai chúng tôi thường đạp xe bên nhau, có khi chẳng nói gì với nhau, im nghe nỗi buồn lặng lặng…

 

– Sau năm 1973, tôi làm báo Người Giáo viên Nhân dân ở Hà Nội. Nghèo lắm! Quỳ là BTV văn xuôi của báo Văn Nghệ, thỉnh thoảng đặt tôi dịch những bài ngăn ngắn cho báo.

Tôi mới vào nghề dịch, còn sượng, Quỳ phải xù lông nhím bảo vệ tôi trước những BTV “lão làng” khó tính!

Nhớ nhất truyện rất ngắn: Đốm lửa đêm đông của Nga mà tôi dịch qua tiếng Pháp. Thanh củi sắp tàn cố gượng từng chút lửa trong đêm đông kéo dài để ông già không chết rét! Và nó chỉ chịu tắt lịm khi ánh dương đầu tiên loé ở chân trời.

Quỳ đã không gượng được qua những năm tháng buồn thảm của số mệnh mình và của đất nước.

Và đến hôm nay, vẫn có những thanh củi đang cố gượng… mà không hy vọng!

– Năm 1982, tôi bị bắt ở Hà Nội do cầm tập bản thảo “Về Kinh Bắc” của nhà thơ Hoàng Cầm chép tặng.

Quỳ đã cùng nhà văn Nhật Tuấn đến nhà tôi ở Sài Gòn, suốt một ngày lục lọi khắp nhà để đem đi những sách, báo hay trang nháp có thể nguy hại cho tôi.

Chỉ có 2 người bạn ấy không chút sợ “liên luỵ” như hầu hết các “bạn” thời buổi ấy, đó là chỗ dựa tinh thần cho vợ dại con thơ của tôi.

– Năm 1987, sau khi đi tù về, tôi sống bằng việc dịch thuê và làm báo thuê ở Sài Gòn. Quỳ là BTV NXB Măng Non, là người đầu tiên đặt tôi dịch một truyện dài.

Đó là tác phẩm dịch dài hơi đầu tiên và có thể coi là thành công của tôi: Mowgli-Người sói (the Jungle’s Book của R. Kipling).

Quỳ biên tập rất kỹ lưỡng. Tôi tin rằng anh là một BTV tận tuỵ và tài năng khó có được trong thời buổi này. Tôi còn nhớ bài thơ và câu văn mở đầu, có sự chăm chút của Quỳ:

Con Dơi đã thả đêm ra,
Con Diều cắp lấy mà tha đêm về.
Trâu bò yên chỗ trong chuồng
Từ giờ đến sáng tung hoành mặc ta.
Đây, giờ kiêu hãnh uy quyền,
Giờ khoe nanh vuốt giữa miền Lục Lâm
Nghe đây! – Chúc một đêm săn
Tốt lành cho kẻ ghi tâm Luật Rừng.
(Bài hát đêm trong Rừng)

Lúc ấy là bảy giờ, vào một buổi tối rất nóng bức trên vùng đồi Seeonee. Sói Bố thức dậy sau giấc ngủ ngày, nó gãi, ngáp và lần lượt duỗi dài bốn cẳng để rũ bỏ cái cảm giác ngái ngủ ở đầu các ngón chân.

Sói Mẹ thì nằm xoài, cái mũi lớn màu xám của nó chúi xuống giữa bốn con sói con đang chí choé xô đẩy nhau, trong lúc trăng rọi vào qua miệng hang nhà sói.

– Quỳ ra đi đã 10 năm! Trời! Cuộc đời trôi nhanh thế ư?

Kỷ niệm cuối cùng là khuôn mặt bạn đã phù khi Quỳnh, con trai từ Anh quốc về mở ra cho gia đình và tôi chào lần cuối trước khi đưa di hài vào hoả táng.

Bao giờ gặp lại nhau, Quỳ ơi? Chỉ xin bạn hết giận vì những cái không hay của mình khiến bạn không vui lúc cuối đời!

Bạn là hiện thân của từ integrity trên đời này, Quỳ ạ!

Chia sẻ với bạn bè trên mạng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.