Nhớ anh Trần Hoài Dương

Lê Đình Cúc

Được gặp anh trong một thời điểm đặc biệt, để rồi nhớ anh mãi, dù sau này mỗi người sinh sống và công tác xa nhau.

Tôi đã biết đến tên anh từ khi còn là một cậu học sinh cấp II ở một nơi xa lắc, một miền quê nghèo khó.

Những năm 60 thế kỷ trước, đất nước đã hòa bình nhưng vùng quê tôi sách báo vẫn là thứ hiếm hoi, nhất là đối với những đứa trẻ con nông dân như tôi. Chẳng biết từ đâu tôi lại có được cuốn sách “Em bé và bông hồng” (1963) và cái tên Trần Hoài Dương đã đến với tôi từ đó.

Hoa của biển
Hoa của biển

Rồi giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, từ 5-8-1964 quê tôi ngút trời bom đạn Mỹ. Chúng tôi lớn lên và học hành trong bom đạn. Tôi vẫn giữ được cuốn sách của anh dù nhiều lần phải tha từ hầm trú ẩn này đến hầm trú ẩn khác trong những lần lớp học sơ tán…Tôi quý cuốn sách nhỏ nhưng không bao giờ nghĩ là sẽ được biết, được gặp nhà văn.

Chiến tranh kết thúc, tôi đã học xong đại học, đã là anh lính từ mặt trận trở về và thực sự bắt đầu cuộc sống mới với vô vàn khó khăn, nghèo đói mà đất nước đang phải oằn lưng gánh chịu.

Năm 1979, với tuổi xấp xỉ 30 trai tráng, tôi với lòng ngưỡng mộ, hăm hở mon men bước vào xã hội của những người làm văn chương. Lúc này Trần Hoài Dương đã là một nhà văn có tên tuổi, tôi chỉ biết đứng từ xa ngắm nhìn, nào dám làm quen.

Và tôi cũng bắt đầu vào nghề văn chương, nhưng tôi không sáng tác mà chỉ là nghiên cứu và giảng dạy văn học Mỹ, công tác tại Viện Văn học.

Hồi ấy văn học dịch, nhất là trên báo chí chưa sôi nổi, ào ạt như sau này, Cái thứ văn chương không phải của các nước XHCN được dịch và đăng trên báo còn chưa nhiều. Lần ấy tôi đã xông bừa vào báo Văn Nghệ với hai truyện ngắn dịch qua tiếng Anh và tiếng Rumani, là những ngoại ngữ tôi đã được học hồi còn sinh viên ở nước ngoài.


Tôi đã vô tình được gặp anh Trần Hoài Dương ở trụ sở báo Văn Nghệ trên phố Trần Quốc Toản- Hà Nội. Trước đó tôi đã có dịp đọc tác phẩm của anh “Đến những nơi xa”, “Cây lá đỏ”, “Cuộc phiêu lưu của những con chữ”, “Con đường nhỏ”, “Hoa của biển”…nhưng tôi không hình dung được ra nhà văn Trần Hoài Dương.

Những trang viết mượt mà, óng ả rất thực lại như mơ, huyền diệu của tuổi thơ mà bất cứ ai đã từng là trẻ nhỏ đều được sống qua, để rồi đọng lại trong ký ức, để làm người. Tôi cứ hình dung, anh là ai trong những gương mặt quen thuộc của lứa tuổi chúng tôi lúc đó. Võ Quảng, Hà Ân, Nguyễn Kiên, Nguyễn Huy Tưởng hay Tô Hoài? Anh không là ai cả nhưng anh cũng có tất cả những bút pháp, sắc thái của các nhà văn này cộng lại.

Tôi cứ hình dung ra như vậy trước khi được gặp anh.

Đến báo Văn Nghệ, tôi cứ xông bừa vào, gặp bất cứ biên tập viên nào cũng được, để nộp bản thảo chứ đâu biết là ai. Một người nho nhã, trắng trẻo, hơi gầy, trông không được khỏe lắm mở cửa phòng biên tập mời tôi vào, Rồi cũng với giọng nói nhỏ nhẹ, không có gì là ồn ào táo tợn như tôi vẫn nghe người ta nói là nhà văn thường vẫn thế.

Anh hỏi tôi nhiều điều, chuyện văn chương, dịch thuật và cả chuyện linh tinh ngoài đời. Tôi cũng chẳng quan tâm lắm đến người đang tiếp mình như là khách đến báo Văn Nghệ.

Đến lượt tôi trình bày nguyện vọng về mấy truyện ngắn dịch mang theo. Khi nhắc đến đến truyện viết cho thiếu nhi của Mark Twain liên hệ với những nhà văn Việt Nam thì tôi mới biết, người nho sinh đang tiếp tôi là Trần Hoài Dương.

Tôi giật mình, đây mà là nhà văn Trần Hoài Dương ư? Nhà văn mình đã đọc từ hồi lớp 4 trường làng dưới bức tranh “Nhà tranh bên gốc mít” của họa sĩ Tạ Thúc Bình ấy đã theo mình đi suốt năm tháng của chiến tranh và trường đại học ư? Tôi nghĩ, sao các bố tài thế. Tôi cố nén sự ngạc nhiên và lặng nhìn, chiêm ngưỡng thì đúng hơn. Cái ông nhà văn mình ngưỡng mộ ấy là thế này ư? Bình dị, thân ái, nhỏ nhẹ rót nước mời khách trong căn phòng bé tẹo, bàn ghế xộc xệch nhưng trang nhã lịch sự này.

London năm 2010.
London năm 2010.

Tôi mới chợt hối hận, ấy mà từ nãy đến giờ, mình lại huyên thuyên những Andexen với con chim họa mi bằng sắt tây hót líu lo khi người ta vặn dây cót là sự cảnh báo của cơ giới ngự trị trong tâm hồn con người, là sự báo động cho ngày tàn của thơ ca. Rồi chuyện làm gì có nhà văn nào là nhà văn thiếu nhi, nhà văn công nhân….mà chỉ có nhà văn thôi, như Mark Twain nói: làm gì có thiếu nhi mà chỉ có người lớn chưa thành người lớn đấy chứ. Thôi chết rồi, múa rìu trước mắt thợ, đánh trống trước cửa nhà sấm mất rồi.

Tôi hoảng quá, ngồi im thin thít. Anh Dương vẫn nhỏ nhẹ nói chuyện với tôi, không chỉ về văn học mà cả dịch thuật. Dịch thế nào cho một truyện dịch đạt yêu cầu, là hay, là chuẩn của một ngoại ngữ. Rồi anh đọc mấy truyện dịch của tôi mang tới. Ngay sau đó anh nhận xét rất kỹ từng truyện và tỏ ý rất thích, anh khen truyện hay, dịch trôi chảy và đạt. Tôi mừng quá, chắc mẩm là sẽ được anh cho đăng trên báo Văn Nghệ. Thế là bõ công dịch hàng tháng trời lại có nhuận bút mua gạo cho thằng con trai 5 tuổi, lại có tên tuổi….

“Người bạn tận tình” (A devoted friend) của Oscar Wilde. Tác giả thì khỏi phải bàn. Nhà văn Anh nổi tiếng. Không chỉ nổi tiếng về sáng tác mà còn là chủ soái của trường phái “nghệ thuật vì nghệ thuật” làm Châu Âu sôi động cả thế kỷ. Câu chuyện kể về tình bạn của hai người đàn ông. Trong giao đãi ai cũng cho họ là đôi bạn “tận tình”, nhưng thực tế thì chỉ có một người là tận tình, còn người kia thì chỉ là lợi dụng tình bạn. Khi gặp hoạn nạn thì mới bộc lộ. Thậm chí khi bạn sắp chết đói đến vay ít bánh mì thì được trả lời: “Tình bạn là cao quý, đừng làm vẩn đục nó. Bánh mì và bạn không đồng nghĩa với nhau, cả chiết tự cũng khác. Bạn bè: Friend, bánh mì: Bread. Dù là cùng phụ âm (F và B) nhưng bánh mì (Bread) bắt đầu bằng phụ âm (B) là phụ âm kêu còn tình bạn (Friend) bắt đầu bằng phụ âm(F) là phụ âm câm. Để bảo vệ “tình bạn cao quý” hắn ta đuổi bạn thẳng cổ mà không cho vay mẩu bánh mì.

– Truyện viết hay, nhưng Cúc ạ, thời buổi này chiến tranh vừa kết thúc, người giàu, người nghèo đang là hiện tượng. Trước đây họ là những người bạn cùng chung hoạn nạn, cùng sống chết, nay đang phân hóa. Mình đăng truyện này, người ta cho là có ý lập lờ, biểu tượng hai mặt về xã hội ta bây giờ đấy.

Tôi chợt hiểu ra vì trước đó Văn Nghệ đã xôn xao về truyện ngắn “Ông hoàng hạnh phúc” cũng của nhà văn Oscar Wilde. Ông hoàng chiến đấu anh dũng trở về, được ca ngợi là người anh hùng, được dựng tượng có thanh gươm nạm những viên ngọc. Bức tượng đứng trên bệ cao nhìn những cuộc đời lầm lũi đói nghèo của dân đen trong thành phố, đã cho con chim gỡ những viên ngọc để cứu đói dân nghèo. Truyện chỉ có vậy thôi nhưng dư luận ồn ào, nào là biểu tượng hai mặt, nói bóng gió về cuộc sống xã hội sau chiến tranh, nào là những người hy sinh trong chiến tranh, anh hùng trong kháng chiến nay chỉ còn là bức tượng để nhìn nhân dân đói khổ….

Đọc xong bản dịch truyện “Diều hâu Gorgo” của Sena Layerlof, anh ngồi im, suy nghĩ hồi lâu. Tôi phấp phỏng chờ đợi câu trả lời quyết định của anh. Đăng hay không đăng? Tác giả là nhà văn Thụy Điển được giải thưởng Nobel.

Truyện ngắn này nhiều nước đã dịch, còn tôi dịch từ bản tiếng Rumani. Mẹ diều hâu Gorgo thường xuyên săn bắt mồi trên đầm lầy. Nhiều lần ăn thịt ngỗng trời. Mẹ con nhà ngỗng trời căm thù diều hâu đến tận xương tủy.

Nhưng rồi có một ngày mẹ diều hâu Gorgo bị thợ săn bắn chết. Gorgo còn bé dại, đói khát sắp chết đến nơi. Động lòng trắc ẩn, mẹ con ngỗng trời đưa Gorgo về nuôi dưỡng.

Mùa đông đến, nhà ngỗng di cư về phương Nam tránh rét, mang theo cả diều hâu con cùng đi. Bay qua những vùng nông thôn xa xôi, bay đến đâu, đàn gà con, vịt con nháo nhào chạy trốn đến đấy vì thấy bóng diều hâu. Ngỗng mẹ chợt hiểu, mình đã nuôi nấng, dạy dỗ, tập bay cho Gorgo, coi nó như con mình nhưng hóa ra nó vẫn là diều hâu trong mắt mọi người. Và Gorgo cũng hiểu rằng mình vẫn là diều hâu nên nó xin phép mẹ và anh chị em ngỗng trời bay đi sống riêng nơi khác với lời hứa là không bao giời bắt, ăn thịt nhà ngỗng trời.

Chân dung tác giả tại nhà riêng.
Chân dung tác giả tại nhà riêng.

Một lúc sau, anh vẫn giọng nhỏ nhẹ:

– Cúc ạ, chiến tranh kết thúc nhưng nỗi đau chia cắt trong lòng người còn lâu lắm mới phai, dù đất nước đã thống nhất. Cúc biết không, hàng vạn tù binh ngụy, hàng nghìn quan chức ngụy quyền đang được tập trung cải tạo. Họ có trở thành người lương thiện được không? Hay là như con diều hâu Gorgo dù được mẹ con nhà ngỗng trời cưu mang, chăm sóc, nuôi nấng nhưng đã là diều hâu thì không bao giờ và không thể trở thành ngỗng trời được? Đăng truyện này theo Cúc có lợi không, có nên không?

– Em đọc rất thích, truyện hay và đúng nữa anh ạ. Diều hâu là diều hâu, ăn thịt đồng loại, dù có giáo dục, dạy dỗ đến đâu thì nó vẫn cứ là diều hâu, không bao giờ và không thể thành ngỗng trời được, đó là bản năng. Nhưng ngụy quân, ngụy quyền là con người mà anh. Con người có nhận thức, có suy nghĩ, có văn hóa. Hoàn cảnh nào đó bắt buộc chứ không phải một triệu ngụy quân, ngụy quyền tất cả là diều hâu.

– Tùy ý Cúc, nhưng mình vẫn ái ngại. Không phải là sợ gì cả nhưng đăng bây giờ có lợi không?

Anh vẫn trầm ngâm suy nghĩ và dành cho tôi quyết định. Hiểu ý anh, tôi mạnh dạn:

– Em xin thôi không đăng nữa.

Giấc mơ tuổi thần tiên
Giấc mơ tuổi thần tiên

Thế là cả hai truyện rất hay của hai nhà văn nổi tiếng thế giới, tôi dịch công phu, rất kỳ vọng đều không thể đăng được. Và hóa ra kỷ niệm với anh Trần Hoài Dương lại bắt đầu và sâu đậm lại là trường hợp anh không đăng cho tôi những truyện dịch này, chứ không phải được anh cho đăng bài ở báo Văn Nghệ.

Sau đó anh em tôi gần gũi nhau, tôi quý mến anh hơn. Và cái nghề của tôi sau này là làm báo. Hơn 10 năm làm Tổng biên tập Tạp chí Khoa Học Xã Hội, tôi càng đinh ninh bài học anh dạy làm báo. Cái gì nên đăng, bao giờ đăng, đăng như thế nào để có lợi cho cách mạng, phục vụ nhân dân. Với tôi, anh như người thầy dạy mình làm báo mặc dù anh đã không định dạy tôi.

Rồi cũng hồi ấy tôi có một người bạn gái! Một người bạn có nhiều kỷ niệm vui buồn. Khi gặp khó khăn, trắc trở, tôi tâm sự với anh. Hóa ra cô bạn của tôi lại là bạn thân của chị Trinh – vợ anh.

Vậy là anh chị và căn phòng ở Đường Thành của anh chị là nơi che chở cho chúng tôi. Sau này cô bạn gái của tôi sống ở nước ngoài, lâu lắm chúng tôi không gặp nhau. Sau 30 năm (1979 – 2009) trong dịp đi Mỹ công tác, tôi sang Canada tìm gặp bạn. Cái cô bé ngày xưa ấy tíu tít hỏi thăm mọi người trong nước. Người đầu tiên cô hỏi thăm là anh Trần Hoài Dương, sau mới đến chị Trinh và các anh chị khác…

Từ khi anh chị và cháu Trần Lê Quỳnh chuyển vào Sài Gòn, tôi không được gặp gia đình nữa. Mãi đến năm 2006 trong một lần nói chuyện về anh ở báo Văn Nghệ với nhà thơ Trương Vĩnh Tuấn thì tôi mới biết địa chỉ của anh.

Tôi lập tức gọi điện vào thăm anh. Hai ngày sau tôi nhận được tập “Trần Hoài Dương – Truyện chọn lọc” với lời đề tặng thân thương, chu đáo “Rất yêu quý tặng Anh chị Lê Đình Cúc và các cháu trong gia đình, cuốn sách cả một đời viết của tôi… Tôi vẫn không bao giờ quên những kỷ niệm đẹp đẽ của anh em mình từ những ngày xa lắc – Hoài Dương. Sài Gòn 19-12-2006”

Đọc sách anh gửi tặng lại rơm rớm nước mắt nhớ những ngày gian lao, có anh và chị Trinh. Lại nhớ tuổi thơ của mình được anh đánh thức những kỷ niệm mà vì cuộc sống bộn bề có việc tôi đã quên đến 50 năm qua.

“Trên khắp mặt ruộng khô, giữa những chân rạ bị xén cụt, để ý sẽ thấy cơ man những lỗ nhỏ, một hạt đỗ xanh có thể đậy kín miệng lỗ. Đó là những chiếc tổ của cồng cộng, một loài sâu nhỏ xíu bằng đầu que tăm, dài chừng nửa đốt ngón tay, trắng muốt, đầu là một chấm đen nhánh…Cả bọn, có đứa nằm trần ra ruộng, có đứa ngồi xổm cúi sát mặt xuống đất theo dõi động tĩnh của con vật, miệng ê a câu đồng dao: “Cồng cộng mày lên ăn mạ…” Rút một cọng cỏ non hoặc mạ non nhè nhẹ cắm xuống tổ cồng cộng, chăm chú nín thở quan sát. Hễ thấy cọng mạ khẽ lay động, chắc chắn cồng cộng có nhà….”.

Một đoạn văn trong cuốn “Truyện chọn lọc” của Trần Hoài Dương, cứ như là anh viết riêng cho tôi hồi lên 5, lên 7 tuổi.

Chia sẻ với bạn bè trên mạng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.